Bảo lãnh con lớn và anh chị em sang Mỹ thuộc các diện ưu tiên gia đình có hạn ngạch: F1 cho con độc thân từ 21 tuổi của công dân, F2B cho con độc thân từ 21 tuổi của thường trú nhân, F3 cho con đã kết hôn của công dân, F4 cho anh chị em của công dân từ 21 tuổi. Tất cả đều phải chờ ngày ưu tiên đến lượt trên Visa Bulletin; diện F3 và F4 thường chờ trên mười năm. Vợ chồng và con dưới 21 tuổi của người được bảo lãnh được đi kèm theo.
Vì thời gian chờ quá dài, điều quan trọng nhất của các diện này không nằm ở giấy tờ ban đầu mà ở những thay đổi trong lúc chờ: con kết hôn, người bảo lãnh nhập tịch hay qua đời, con đi kèm quá 21 tuổi. Bài này giải thích các quy tắc chuyển diện và luật bảo vệ tuổi trẻ em (CSPA), những thứ quyết định hồ sơ còn sống hay mất.
Bốn diện ưu tiên gia đình và người đi kèm
Bảng tóm tắt dưới đây theo Luật Di trú và Quốc tịch Mỹ. Thời gian chờ thực tế không ghi vì thay đổi theo từng tháng Visa Bulletin; hãy tra bản mới nhất trên travel.state.gov:
| Diện | Người bảo lãnh | Người được bảo lãnh | Ai đi kèm |
|---|---|---|---|
| F1 | Công dân Mỹ | Con chưa kết hôn từ 21 tuổi | Con dưới 21 tuổi chưa kết hôn của người được bảo lãnh |
| F2A | Thường trú nhân | Vợ chồng, con dưới 21 tuổi chưa kết hôn | Con dưới 21 tuổi của người được bảo lãnh |
| F2B | Thường trú nhân | Con chưa kết hôn từ 21 tuổi | Con dưới 21 tuổi chưa kết hôn |
| F3 | Công dân Mỹ | Con đã kết hôn, mọi độ tuổi | Vợ hoặc chồng và con dưới 21 tuổi |
| F4 | Công dân Mỹ từ 21 tuổi | Anh chị em ruột, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha, anh chị em kế, nuôi theo điều kiện | Vợ hoặc chồng và con dưới 21 tuổi |
Để bảo lãnh anh chị em, người bảo lãnh phải chứng minh hai người có chung ít nhất một cha hoặc mẹ: nộp khai sinh của cả hai, và giấy tờ cho thấy cha mẹ chung. Anh chị em kế và nuôi chỉ được tính khi quan hệ kế hoặc nuôi được thiết lập đúng mốc tuổi theo luật.
Thường trú nhân không có diện bảo lãnh anh chị em hay con đã kết hôn. Đây là lý do nhiều gia đình đợi người bảo lãnh nhập tịch rồi mới nộp.
Ngày ưu tiên: tài sản quý nhất của hồ sơ
Ngày ưu tiên là ngày USCIS nhận đơn I-130. Ở các diện có hạn ngạch, đó là chỗ đứng trong hàng. Visa Bulletin hằng tháng công bố mốc ngày ưu tiên được xét cho từng diện, theo nhóm nước sinh; người có ngày ưu tiên trước mốc thì được tiến hành bước tiếp. Việt Nam hiện thuộc nhóm "các nước còn lại" ở hầu hết các diện gia đình, nhưng hàng chờ F4 vẫn kéo dài trên một thập kỷ trong nhiều năm gần đây.
Ngày ưu tiên được giữ khi hồ sơ chuyển diện theo luật, ví dụ khi con độc thân diện F1 kết hôn và chuyển sang F3, ngày ưu tiên ban đầu vẫn giữ. Đó là lý do một hồ sơ đã nộp hơn mười năm trước có giá trị rất lớn, và gia đình nên giữ cẩn thận giấy biên nhận, cập nhật địa chỉ với NVC để không bị đóng hồ sơ vì không phản hồi.
Hồ sơ ở NVC mà gia đình không liên lạc trong một năm sau khi được thông báo có thể bị chấm dứt theo quy định. Rất nhiều gia đình mất hồ sơ F4 đã chờ nhiều năm chỉ vì đổi địa chỉ email, điện thoại mà không báo. Hãy kiểm định kỳ trạng thái trên cổng của Bộ Ngoại giao Mỹ.
Visa Bulletin có hai bảng cho diện gia đình: ngày hành động cuối cùng (Final Action Dates) và ngày được nộp hồ sơ (Dates for Filing). NVC thường dùng bảng ngày nộp hồ sơ để mời gia đình chuẩn bị giấy tờ sớm, còn thị thực chỉ được cấp khi ngày ưu tiên qua mốc ngày hành động cuối cùng. Hiểu hai bảng giúp gia đình không hoảng khi nhận thư mời nộp giấy tờ mà mãi chưa có lịch phỏng vấn; cách đọc chi tiết có ở bài Visa Bulletin thuộc danh mục thẻ xanh Mỹ.
Những thay đổi trong lúc chờ và hậu quả của chúng
Người bảo lãnh là thường trú nhân nhập quốc tịch. Con dưới 21 tuổi diện F2A chuyển thành thân nhân trực hệ, không còn chờ. Con độc thân trên 21 tuổi diện F2B chuyển sang F1. Có trường hợp F1 lại chờ lâu hơn F2B, nên luật cho phép người được bảo lãnh chọn ở lại diện F2B bằng văn bản gửi USCIS.
Con độc thân kết hôn. Nếu người bảo lãnh là công dân, F1 chuyển sang F3, giữ ngày ưu tiên. Nếu người bảo lãnh chỉ là thường trú nhân, con kết hôn làm đơn bị huỷ, vì thường trú nhân không bảo lãnh được con đã kết hôn. Đây là sai lầm không sửa được bằng ly hôn sau đó.
Con đã kết hôn ly hôn hoặc goá. Diện F3 chuyển sang F1 nếu người bảo lãnh là công dân, hoặc thành thân nhân trực hệ nếu người con dưới 21 tuổi. Ly hôn giả để chuyển diện là gian lận và có hậu quả nặng.
Người bảo lãnh qua đời. Về nguyên tắc đơn bị huỷ. Luật có cơ chế cho tiếp tục xét trong một số trường hợp, như khi người được bảo lãnh đang cư trú tại Mỹ, hoặc xin khôi phục vì lý do nhân đạo với người đồng bảo trợ thay thế. Cần luật sư ngay.
Anh chị em được bảo lãnh ly hôn hoặc tái hôn. Vợ hoặc chồng đi kèm phải là vợ chồng hợp pháp tại thời điểm người được bảo lãnh nhập cảnh hoặc điều chỉnh tình trạng. Người vợ, chồng mới cưới trong thời gian chờ được đi kèm nếu hôn nhân thật và có giấy tờ.
Luật CSPA: con đi kèm quá 21 tuổi có bị rớt không
Trẻ em là người đi kèm theo của hồ sơ F4, F3 hay F2A phải còn "dưới 21 tuổi" khi đến lượt. Với hàng chờ hơn mười năm, nhiều đứa trẻ đã lớn quá tuổi. Luật Bảo vệ Tình trạng Trẻ em (CSPA, năm 2002) giảm bớt thiệt thòi này bằng cách tính "tuổi CSPA" thay cho tuổi thật trong các diện ưu tiên.
Cách tính cơ bản: lấy tuổi thật của trẻ vào ngày thị thực có sẵn, tức ngày hồ sơ được xem là đến lượt theo Visa Bulletin và đơn đã được duyệt, trừ đi thời gian đơn I-130 nằm chờ ở USCIS từ lúc nộp tới lúc duyệt. Nếu kết quả dưới 21, trẻ vẫn được tính là con đi kèm, với điều kiện phải có hành động "tìm cách nhận" thị thực, như nộp đơn DS-260 hoặc I-485, trong vòng một năm kể từ ngày thị thực có sẵn.
Ví dụ giả định: đơn F4 nộp khi con của người được bảo lãnh 8 tuổi, USCIS xét hai năm thì duyệt. Mười hai năm sau ngày nộp, hồ sơ đến lượt, con đã 20 tuổi thật, tuổi CSPA là 18. Gia đình nộp DS-260 cho con trong năm đó thì con vẫn đi kèm. Nếu trì hoãn quá một năm, quyền này có thể mất.
Với con đi kèm của diện F3, F4 bị quá tuổi CSPA, không có cơ chế tự động chuyển sang diện khác giữ ngày ưu tiên cũ; sau khi cha mẹ thành thường trú nhân, cha mẹ phải nộp đơn F2B mới cho con với ngày ưu tiên mới. Cách tính CSPA có nhiều chi tiết, và USCIS đã điều chỉnh hướng dẫn về việc dùng bảng ngày nào trong Visa Bulletin; nên nhờ người có chuyên môn tính trước.
Chứng minh quan hệ anh chị em khi giấy tờ không khớp
Hồ sơ F4 dựa hoàn toàn vào giấy tờ hộ tịch của hai người: khai sinh của người bảo lãnh, khai sinh của người được bảo lãnh, và cả hai phải cho thấy cùng một cha hoặc một mẹ. Với các gia đình Việt Nam có con sinh ở những giai đoạn khác nhau, những chỗ lệch rất phổ biến: tên mẹ trên khai sinh của người này có tên đệm, của người kia không có; tên cha ghi tên thường gọi; năm sinh cha mẹ khác nhau giữa hai khai sinh.
Viên chức lãnh sự xét toàn bộ chứng cứ. Những giấy tờ phụ có thể giúp gồm sổ hộ khẩu cũ có tên cả gia đình, học bạ ghi tên cha mẹ, giấy tờ đất đai thừa kế ghi tên các con, ảnh gia đình qua nhiều năm. Trường hợp người bảo lãnh đã sang Mỹ từ nhỏ và khai sinh được làm lại ở nơi khác, lãnh sự thường hỏi kỹ hơn.
Khi giấy tờ không đủ thuyết phục, lãnh sự có thể đề nghị xét nghiệm ADN. Với anh chị em, xét nghiệm huyết thống phức tạp hơn xét nghiệm cha mẹ con, kết quả có khi không đủ rõ để kết luận nếu chỉ xét hai anh chị em; đôi khi cần mẫu của cha hoặc mẹ còn sống. Chi tiết được viết ở bài xét nghiệm ADN trong cùng danh mục.
Lập kế hoạch cho một hồ sơ mười năm
Một hồ sơ F4 nộp hôm nay có thể đến lượt khi người được bảo lãnh đã đổi việc, có thêm con, con lớn đã vào đại học. Kế hoạch tốt không dựa trên việc "chờ đi Mỹ" mà coi hồ sơ là một phương án dài hạn trong khi vẫn sống trọn vẹn ở Việt Nam: học hành, sự nghiệp, tài sản vẫn phát triển bình thường.
Trong lúc chờ, có vài việc đáng làm. Giữ giấy tờ hộ tịch cập nhật, ghi chú mọi kết hôn, ly hôn, khai sinh mới. Tránh mọi vấn đề pháp lý có thể thành lý do không được nhập cảnh. Theo dõi Visa Bulletin vài tháng một lần để biết hồ sơ còn cách bao xa. Nếu con lớn có cơ hội du học hay làm việc ở Mỹ bằng thị thực khác, cân nhắc rằng hồ sơ định cư đang chờ có thể ảnh hưởng đến việc chứng minh ý định không định cư khi xin thị thực tạm thời.
Người bảo lãnh cũng cần chuẩn bị tài chính cho bản I-864 vào lúc hồ sơ đến lượt. Bảo lãnh cả gia đình anh chị em gồm vợ chồng và hai con là thêm bốn người vào quy mô hộ, ngưỡng thu nhập rất cao; người đồng bảo trợ thường là cần thiết. Nếu muốn rà kế hoạch theo hoàn cảnh cụ thể, bạn có thể gửi thông tin qua form tư vấn miễn phí của Vĩnh Trú.
Câu hỏi thường gặp
Diện F4 có bị bãi bỏ không?
Đã có những đề xuất lập pháp nhằm thu hẹp hoặc bỏ diện anh chị em trong các cuộc tranh luận cải cách di trú, nhưng tại thời điểm viết, diện F4 vẫn tồn tại trong luật. Chính sách có thể thay đổi; theo dõi thông báo chính thức của USCIS và Bộ Ngoại giao Mỹ, không tin tin đồn trên mạng xã hội.
Anh chị em cùng cha khác mẹ có bảo lãnh được không?
Được, nếu chứng minh được người cha chung. Hồ sơ cần khai sinh của cả hai có tên cha, và nếu một trong hai sinh ngoài giá thú thì cần thêm bằng chứng hợp pháp hoá hoặc quan hệ cha con theo luật. Xét nghiệm ADN có thể được yêu cầu khi giấy tờ không đủ.
Người được bảo lãnh F4 qua đời thì vợ con có được đi tiếp không?
Về nguyên tắc, người đi kèm mất cơ sở khi người được bảo lãnh chính qua đời trước khi nhập cảnh. Luật có điều khoản cho một số người đi kèm đang cư trú tại Mỹ được tiếp tục xét. Trường hợp này phức tạp, cần hỏi luật sư di trú có giấy phép.
Con chưa kết hôn trên 21 tuổi có nên kết hôn trước khi đi không?
Phụ thuộc người bảo lãnh. Nếu là thường trú nhân, kết hôn làm đơn F2B bị huỷ. Nếu là công dân, kết hôn chuyển hồ sơ sang F3, thường chờ lâu hơn. Đa số trường hợp, chờ nhập cảnh xong mới kết hôn rồi bảo lãnh vợ hoặc chồng là phương án ít rủi ro hơn.
Có thể nộp đơn F4 cho nhiều anh chị em cùng lúc không?
Mỗi anh chị em là một đơn I-130 riêng với ngày ưu tiên riêng. Người bảo lãnh có thể nộp nhiều đơn cùng lúc, nhưng khi các hồ sơ đến lượt, bản I-864 cho mỗi hồ sơ sẽ tính quy mô hộ tăng lên, nên cần tính khả năng tài chính và người đồng bảo trợ.
Ngày ưu tiên có bao giờ lùi lại không?
Có. Khi nhu cầu vượt hạn ngạch, Bộ Ngoại giao có thể lùi mốc ngày ưu tiên của một diện trong Visa Bulletin, gọi là thoái lùi. Hồ sơ đang ở NVC sẽ phải đợi tiếp. Vì vậy không nên bán nhà, nghỉ việc chỉ vì mốc vừa tiến gần.