VinhTru.comVĩnh Trú
Thường trú châu Á

Vĩnh trú Nhật Bản (eijuken) là gì: điều kiện chung và các diện được rút ngắn

Vĩnh trú Nhật cho ở lâu dài không giới hạn hoạt động. Bài giải thích điều kiện 10 năm, cách đếm thời gian, các diện rút ngắn và giới hạn còn lại.

Vietnamese couple seen from behind walking under cherry trees along a quiet residential street in a Japanese suburb in early spring, soft morning light, wide shot

Vĩnh trú Nhật Bản (永住者, người Việt quen gọi là “eijuken” hay visa vĩnh trú) là tư cách lưu trú cho phép người nước ngoài sống ở Nhật không thời hạn, làm bất kỳ công việc hợp pháp nào và không phải gia hạn tư cách định kỳ. Theo hướng dẫn của Cục Quản lý xuất nhập cảnh và lưu trú Nhật Bản (Immigration Services Agency, trang isa.go.jp), điều kiện chung là đã sống ở Nhật liên tục khoảng 10 năm, trong đó ít nhất 5 năm mang tư cách lao động hoặc tư cách cư trú, có hạnh kiểm tốt, tự lo được sinh kế và hoàn thành nghĩa vụ thuế, lương hưu, bảo hiểm.

Một số diện được rút ngắn mạnh: vợ chồng của người Nhật hoặc của người vĩnh trú, con của họ, người định cư (teijusha), người đạt điểm nhân lực chất lượng cao. Bài này giải thích vĩnh trú thực chất cho bạn những gì, các điều kiện được đọc thế nào trong thực tế, cách đếm 10 năm sao cho không đếm nhầm, và những giới hạn vẫn còn sau khi đã có thẻ. Điều kiện chi tiết và giấy tờ có thể đổi theo từng năm, nên mọi quyết định nộp hồ sơ cần đối chiếu bản hướng dẫn hiện hành của Cục.

Vĩnh trú khác visa lao động và khác nhập tịch ở điểm nào

Tư cách lưu trú ở Nhật được chia thành hai nhóm lớn. Nhóm thứ nhất gắn với hoạt động: kỹ sư, kỹ năng đặc định, du học, kinh doanh quản lý… Người mang các tư cách này chỉ được làm đúng phạm vi hoạt động ghi nhận; đổi sang ngành khác, nghỉ việc quá lâu hay mở công ty riêng đều có thể làm mất căn cứ lưu trú. Nhóm thứ hai gắn với thân phận: vợ chồng người Nhật, người định cư, người vĩnh trú. Nhóm này không bị giới hạn hoạt động.

Vĩnh trú là bậc ổn định nhất của nhóm thân phận. Người vĩnh trú không phải gia hạn tư cách mỗi một, ba hay năm năm, có thể làm thuê, tự kinh doanh, làm bán thời gian, nghỉ việc chăm con mà không lo mất tư cách. Ngân hàng Nhật cũng thường xét vay mua nhà dễ hơn với người vĩnh trú vì không còn rủi ro hết hạn visa giữa chừng khoản vay.

Tuy vậy vĩnh trú không phải quốc tịch. Người vĩnh trú vẫn mang hộ chiếu Việt Nam, không bầu cử, vẫn phải mang thẻ lưu trú, vẫn cần thủ tục tái nhập cảnh khi ra nước ngoài và vẫn có thể bị trục xuất nếu phạm những tội nghiêm trọng. Nhập tịch Nhật (帰化) là thủ tục khác hẳn, do Bộ Tư pháp xét qua các Cục Pháp vụ, và Nhật nhìn chung không chấp nhận hai quốc tịch với người nhập tịch. Vì vậy nhiều người Việt chọn dừng ở vĩnh trú để giữ quốc tịch Việt Nam mà vẫn sống lâu dài ở Nhật.

Ba điều kiện gốc và cách Cục đọc chúng trong thực tế

Hạnh kiểm tốt. Nghĩa là tuân thủ pháp luật và sống không bị xã hội chê trách. Trong thực tế, điều này bao gồm cả lỗi nhỏ lặp lại: vi phạm giao thông nhiều lần, làm thêm quá giờ cho phép thời còn du học, không khai báo đổi địa chỉ đúng hạn. Một lần phạt nhẹ không tự động làm trượt, nhưng một chuỗi vi phạm cho thấy thói quen thiếu tuân thủ thì thường bị đánh giá bất lợi.

Có tài sản hoặc kỹ năng đủ để tự lập sinh kế. Cục không công bố một mức thu nhập cố định, mà xem người nộp và gia đình có sống ổn định, không trở thành gánh nặng phúc lợi trong tương lai hay không. Thu nhập đều đặn qua nhiều năm, hợp đồng lao động ổn định và số người phụ thuộc hợp lý là những gì được nhìn vào. Các mức “khoảng ba triệu yên” hay “bốn triệu yên” lan truyền trên mạng chỉ là kinh nghiệm truyền miệng, không phải chuẩn chính thức.

Việc cho vĩnh trú phù hợp lợi ích của Nhật. Đây là nhóm điều kiện chứa phần cứng nhất: thời gian cư trú khoảng 10 năm liên tục (5 năm trong đó mang tư cách lao động hoặc cư trú), không có án phạt nặng, thực hiện đúng nghĩa vụ công như nộp thuế, đóng lương hưu, đóng bảo hiểm y tế đúng hạn, khai báo cư trú đúng quy định, đang mang tư cách lưu trú với thời hạn dài nhất của loại đó (trên thực tế là thời hạn 3 năm trở lên), và không gây nguy cơ cho sức khoẻ cộng đồng.

Người bảo lãnh nhân thân. Hồ sơ cần một người bảo lãnh là người Nhật hoặc người vĩnh trú. Người bảo lãnh cam kết về mặt đạo nghĩa là người nộp sẽ tuân thủ pháp luật; đây không phải bảo lãnh nợ, nên người được nhờ không phải gánh trách nhiệm tài chính kiểu người bảo lãnh vay tiền.

Quy tắc 10 năm được đếm thế nào để không đếm nhầm

Sai lầm phổ biến nhất là cộng dồn mọi năm từng có mặt ở Nhật. Mười năm ở đây là cư trú liên tục. Nếu bạn về Việt Nam hẳn một thời gian, hủy thẻ lưu trú rồi sang lại bằng tư cách mới, đồng hồ thường bị đặt lại từ đầu. Những chuyến về nước dài trong khi vẫn giữ thẻ cũng có thể bị xem là gián đoạn, nhất là khi một lần vắng mặt kéo dài nhiều tháng hoặc tổng số ngày ở ngoài Nhật trong một năm quá lớn. Cục không công bố thành luật một con số ngày cụ thể, nên cách an toàn là giữ số ngày ở ngoài thấp và có lý do rõ ràng cho mỗi chuyến đi dài.

Phần thứ hai cần đếm riêng là 5 năm mang tư cách lao động hoặc tư cách cư trú. Thời gian du học, học tiếng được tính vào tổng 10 năm, nhưng không được tính vào 5 năm này. Theo hướng dẫn hiện hành của Cục, thời gian thực tập kỹ năng và thời gian mang kỹ năng đặc định số 1 cũng không được tính vào 5 năm lao động. Đây là chi tiết mà nhiều người Việt đi theo con đường thực tập sinh rồi chuyển lên bỏ qua, và chỉ phát hiện khi hồ sơ bị trả lời chưa đủ thời gian.

Một ví dụ giả định: anh Minh sang Nhật học tiếng 2 năm, học trường chuyên môn 2 năm, sau đó làm kỹ sư với tư cách “Kỹ thuật, tri thức nhân văn, nghiệp vụ quốc tế” thêm 6 năm, không có lần nào về nước quá vài tuần. Tổng thời gian liên tục là 10 năm, trong đó 6 năm lao động, nên về thời gian anh đã đáp ứng điều kiện chung. Nếu anh từng nghỉ việc 5 tháng giữa chừng mà không tìm việc và không báo cho Cục, khoảng trống đó có thể bị đặt câu hỏi khi xét.

Các diện được rút ngắn thời gian cư trú

Hướng dẫn của Cục liệt kê các trường hợp đặc biệt không cần đủ 10 năm. Bảng dưới tóm tắt các mốc thường gặp nhất với người Việt; điều kiện về hạnh kiểm và nghĩa vụ công vẫn áp dụng như diện chung.

DiệnMốc thời gian thường áp dụngĐiểm cần lưu ý
Vợ hoặc chồng của người Nhật, người vĩnh trú, người vĩnh trú đặc biệtHôn nhân thực chất từ 3 năm trở lên và đã sống ở Nhật từ 1 năm trở lênHôn nhân phải còn thực chất; ly thân, sống riêng kéo dài dễ bị xem xét lại
Con ruột hoặc con nuôi đặc biệt của các đối tượng trênSống ở Nhật liên tục từ 1 năm trở lênThường nộp kèm hồ sơ của cha mẹ
Người định cư (teijusha)Sống ở Nhật liên tục từ 5 năm trở lênGồm nhiều trường hợp như con riêng của vợ chồng người Nhật, người gốc Nhật
Người được công nhận tị nạnSống ở Nhật liên tục từ 5 năm trở lên sau khi được công nhậnÍt gặp với người Việt hiện nay
Người có đóng góp đặc biệt cho NhậtSống ở Nhật từ 5 năm trở lênXét theo thành tích ngoại giao, kinh tế, văn hoá, học thuật
Nhân lực chất lượng cao từ 70 điểmDuy trì mức 70 điểm trong 3 nămXem bài về điểm HSP trong cùng danh mục
Nhân lực chất lượng cao từ 80 điểmDuy trì mức 80 điểm trong 1 nămPhải chứng minh điểm cả ở thời điểm 1 năm trước

Các mốc trên là đọc theo hướng dẫn công bố; chúng là điều kiện tối thiểu chứ không phải lời bảo đảm được duyệt. Hồ sơ đủ thời gian nhưng có vấn đề về thuế, lương hưu hay hạnh kiểm vẫn có thể bị từ chối.

Quyền lợi thực tế và những giới hạn còn lại sau khi có vĩnh trú

Không còn bị trói vào một công việc. Người vĩnh trú đổi nghề, mở cửa hàng, làm nông, làm bán thời gian đều được. Với gia đình có con nhỏ, điều này cho phép vợ hoặc chồng tạm nghỉ việc mà không lo mất tư cách lưu trú của cả nhà.

Thẻ lưu trú vẫn phải đổi định kỳ. Tư cách vĩnh trú không có hạn, nhưng thẻ lưu trú của người vĩnh trú từ 16 tuổi trở lên có thời hạn khoảng 7 năm và phải xin cấp lại thẻ trước khi hết hạn. Quên đổi thẻ là vi phạm nghĩa vụ khai báo, có thể bị phạt.

Ra nước ngoài vẫn phải tính chuyện tái nhập cảnh. Người vĩnh trú rời Nhật dưới một năm có thể dùng cơ chế tái nhập cảnh đặc biệt ngay tại sân bay; đi lâu hơn cần xin giấy phép tái nhập cảnh trước khi đi. Ở ngoài quá hạn giấy phép là mất tư cách vĩnh trú, phải làm lại từ đầu.

Vĩnh trú có thể bị thu hồi. Luật nhập cư Nhật sửa đổi năm 2024 bổ sung cơ chế thu hồi hoặc chuyển đổi tư cách vĩnh trú với người cố ý không nộp thuế, không đóng bảo hiểm xã hội, hoặc bị kết án một số tội, theo lộ trình áp dụng được công bố trong vài năm sau đó. Nghĩa là có thẻ rồi vẫn phải giữ kỷ luật nghĩa vụ công như trước khi nộp.

Nên bắt đầu chuẩn bị từ đâu

Nếu bạn đang ở Nhật và nghĩ tới vĩnh trú trong vài năm tới, trình tự dưới đây giúp tránh những lỗi phát hiện muộn.

  1. Lập dòng thời gian cư trú của chính mình: ngày nhập cảnh đầu tiên, từng tư cách lưu trú, từng lần đổi, từng chuyến về nước dài. So với điều kiện 10 năm và 5 năm lao động.
  2. Xin giấy chứng nhận thuế cư trú và giấy chứng nhận đã nộp thuế ở toà thị chính nơi bạn ở, kiểm từng năm có khoản nào nộp trễ không.
  3. Đăng nhập trang tra cứu lương hưu hoặc xin bản ghi đóng lương hưu, kiểm có tháng nào trống hoặc đóng trễ không; làm tương tự với bảo hiểm y tế quốc dân nếu từng tự đóng.
  4. Xác định diện của mình: diện chung, diện vợ chồng người Nhật, diện định cư hay diện nhân lực chất lượng cao, vì mỗi diện cần bộ giấy khác nhau.
  5. Tìm trước người bảo lãnh nhân thân phù hợp và giải thích rõ cho họ trách nhiệm chỉ ở mức cam kết đạo nghĩa.
  6. Tải bộ danh mục giấy tờ mới nhất trên trang của Cục cho đúng diện, chuẩn bị bản dịch tiếng Nhật cho giấy tờ Việt Nam, rồi nộp tại Cục xuất nhập cảnh khu vực nơi cư trú.

Thời gian xét thường kéo dài nhiều tháng và khác nhau theo khu vực. Trong lúc chờ, tư cách lưu trú hiện tại vẫn phải được gia hạn đúng hạn; nộp vĩnh trú không thay thế việc gia hạn visa đang có.

Câu hỏi thường gặp

Du học ở Nhật có được tính vào thời gian xin vĩnh trú không?

Có, nhưng chỉ tính vào tổng thời gian cư trú liên tục khoảng 10 năm. Thời gian du học không được tính vào 5 năm mang tư cách lao động hoặc cư trú. Người du học 4 năm rồi đi làm vẫn cần ít nhất 5 năm đi làm, tức khoảng 9 đến 10 năm tổng cộng.

Đang mang visa thời hạn 1 năm thì có nộp vĩnh trú được không?

Theo hướng dẫn hiện hành, người nộp cần đang mang tư cách lưu trú với thời hạn dài nhất của loại đó, mà trên thực tế Cục chấp nhận thời hạn 3 năm. Người chỉ được cấp 1 năm thường nên chờ lần gia hạn tiếp theo được 3 năm rồi mới nộp, tránh hồ sơ bị trả lời không đủ điều kiện.

Vợ của người Nhật kết hôn được 2 năm thì đã nộp vĩnh trú được chưa?

Theo diện vợ chồng, mốc thường áp dụng là hôn nhân thực chất từ 3 năm trở lên và đã sống ở Nhật từ 1 năm trở lên. Kết hôn 2 năm thì thường chưa đủ; trong lúc chờ, tư cách vợ chồng người Nhật vẫn phải được gia hạn bình thường.

Có vĩnh trú rồi thì vợ con ở Việt Nam có sang được không?

Người vĩnh trú có thể bảo lãnh vợ chồng và con sang Nhật theo tư cách vợ chồng của người vĩnh trú hoặc định cư, tùy trường hợp. Gia đình sang sau không tự động có vĩnh trú mà phải sống ở Nhật đủ thời gian theo diện của mình rồi mới nộp riêng.

Vĩnh trú Nhật có cần thi tiếng Nhật không?

Diện chung hiện không có bài thi tiếng Nhật bắt buộc như một số nước khác. Tuy vậy chứng chỉ năng lực tiếng Nhật cao giúp cộng điểm ở diện nhân lực chất lượng cao, và khả năng tiếng giúp chứng minh mức độ hòa nhập, công việc ổn định khi Cục xem xét toàn bộ hồ sơ.

Bị từ chối vĩnh trú thì có ảnh hưởng tới visa đang có không?

Bị từ chối vĩnh trú không tự động làm mất tư cách lưu trú hiện tại. Bạn vẫn ở Nhật hợp pháp theo visa đang có, nhưng cần tìm hiểu lý do từ chối, khắc phục, ví dụ đóng đủ thuế hay lương hưu trong vài năm, rồi mới nộp lại để tránh bị từ chối lần nữa.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.