Công dân hoặc thường trú nhân Canada từ 18 tuổi được bảo lãnh vợ hoặc chồng hợp pháp (spouse), người sống chung như vợ chồng liên tục từ 12 tháng (common-law partner) hoặc bạn đời có quan hệ gắn bó từ một năm nhưng không thể sống chung hay kết hôn vì lý do ngoài tầm kiểm soát (conjugal partner) sang thường trú. Hồ sơ có thể nộp theo diện trong Canada (inland) khi hai người đang sống cùng nhau ở Canada, hoặc diện ngoài Canada (outland). Người bảo lãnh ký cam kết hỗ trợ tài chính ba năm kể từ ngày người được bảo lãnh thành thường trú nhân.
Điều làm nên thành bại của hồ sơ không nằm ở giấy đăng ký kết hôn mà ở chỗ quan hệ có thật và không nhằm chủ yếu để nhập cư. Bài này đi vào chi tiết cách Canada xét điều đó, những điều kiện loại trừ người bảo lãnh mà nhiều người không biết, và cách chọn giữa nộp trong hay ngoài Canada. Nguyên lý bảo lãnh chung giữa các nước được bàn ở danh mục bảo lãnh đoàn tụ gia đình; ở đây chỉ nói riêng Canada.
Ba dạng quan hệ được bảo lãnh
Canada không chỉ công nhận hôn nhân có đăng ký. Mỗi dạng quan hệ có cách chứng minh riêng:
| Dạng quan hệ | Định nghĩa | Bằng chứng cốt lõi |
|---|---|---|
| Vợ, chồng (spouse) | Kết hôn hợp pháp ở nơi tổ chức hôn lễ và được Canada công nhận | Giấy chứng nhận kết hôn hợp lệ, cộng bằng chứng quan hệ thật |
| Sống chung như vợ chồng (common-law) | Sống chung liên tục ít nhất 12 tháng trong quan hệ như vợ chồng | Hợp đồng thuê nhà chung, hoá đơn cùng địa chỉ, giấy tờ chung, xác nhận của người quen |
| Bạn đời gắn bó (conjugal) | Quan hệ từ một năm trở lên nhưng không thể sống chung hay kết hôn vì rào cản pháp lý, xã hội hoặc di trú | Bằng chứng về quan hệ lâu dài và về rào cản thật; chỉ áp dụng với người ở ngoài Canada |
Hôn nhân đồng giới được công nhận nếu hợp pháp ở nơi đăng ký và theo luật Canada. Hôn nhân giữa hai người mà một bên dưới 16 tuổi, hôn nhân qua uỷ quyền hoặc qua điện thoại mà hai người không có mặt (trừ một số trường hợp quân đội), và hôn nhân trùng lặp không được công nhận để bảo lãnh.
Với người Việt, việc kết hôn với công dân hoặc thường trú nhân Canada thường đăng ký ở Việt Nam theo thủ tục kết hôn có yếu tố nước ngoài tại cơ quan hộ tịch có thẩm quyền. Từ tháng 7 năm 2025, sau khi bỏ cấp huyện, nơi tiếp nhận được sắp xếp lại; hãy kiểm nơi nộp hiện hành trên cổng dịch vụ công trước khi làm. Bản dịch giấy tờ hộ tịch phải đúng quy định dịch thuật của IRCC.
Ai được làm người bảo lãnh, ai bị loại
Điều kiện cơ bản. Là công dân Canada, thường trú nhân, hoặc người được đăng ký theo Đạo luật về người da đỏ (Indian Act), từ 18 tuổi, và có thể chứng minh không phụ thuộc trợ cấp xã hội vì lý do khác ngoài khuyết tật. Thường trú nhân phải đang sống ở Canada; công dân sống ở nước ngoài có thể bảo lãnh nếu chứng minh sẽ về sống ở Canada khi người được bảo lãnh thành thường trú nhân.
Từng được bảo lãnh diện vợ chồng chưa đủ năm năm. Người chính mình trở thành thường trú nhân nhờ được vợ hoặc chồng bảo lãnh, chưa đủ năm năm kể từ ngày đó, không được bảo lãnh vợ hoặc chồng mới.
Đang có cam kết bảo lãnh vợ chồng cũ còn hiệu lực. Người đã bảo lãnh một vợ hoặc chồng trước và cam kết ba năm chưa hết thì không được bảo lãnh vợ hoặc chồng mới. Hồ sơ bảo lãnh cũ đang chờ xét cũng là trở ngại.
Nợ cam kết hoặc trợ cấp. Người từng bảo lãnh mà người thân của họ đã nhận trợ cấp xã hội trong thời gian cam kết, chưa hoàn trả; người nợ tiền cấp dưỡng theo án; người nợ khoản vay nhập cư; người phá sản chưa được giải trừ đều có thể bị loại.
Tiền án nhất định. Bị kết án về một số tội bạo lực, tội xâm hại tình dục hoặc tội gây thương tích cho người thân trong gia đình có thể khiến không được làm người bảo lãnh, tuỳ thời điểm và bản án.
Nộp trong Canada hay ngoài Canada
Người được bảo lãnh đang sống cùng người bảo lãnh tại Canada có thể chọn một trong hai diện. Lựa chọn này có hệ quả về quyền ở lại, quyền làm việc và quyền kháng cáo:
| Tiêu chí | Trong Canada (inland) | Ngoài Canada (outland) |
|---|---|---|
| Người được bảo lãnh ở đâu | Đang sống cùng người bảo lãnh tại Canada, với tư cách tạm trú hợp lệ hoặc trong một số trường hợp không còn tư cách | Ở bất cứ đâu, kể cả đang ở Canada |
| Đi lại trong lúc chờ | Nên ở lại Canada; rời đi có rủi ro không được nhập cảnh lại | Đi lại tự do theo thị thực của mình |
| Quyền làm việc trong lúc chờ | Có thể xin giấy phép lao động mở khi đủ điều kiện | Theo giấy phép hiện có, nếu có |
| Nếu bị từ chối | Không có quyền kháng cáo lên Phân ban kháng cáo di trú; chỉ có thể xin Toà án liên bang xem xét lại | Người bảo lãnh có quyền kháng cáo lên Phân ban kháng cáo di trú (IAD) |
| Phù hợp với | Cặp đôi đang sống cùng ở Canada, cần người được bảo lãnh đi làm | Người được bảo lãnh ở Việt Nam, hoặc cần đi lại trong thời gian chờ |
Với công dân Việt Nam, vốn cần thị thực để vào Canada, đi diện ngoài Canada có nghĩa là thị thực thường trú sẽ được dán vào hộ chiếu tại Việt Nam sau khi hồ sơ được duyệt. Muốn sang thăm trong lúc chờ thì phải xin thị thực tạm trú riêng, và viên chức có thể xét kỹ ý định quay về.
Quan hệ thật: viên chức xét những gì
Luật Canada loại trừ quan hệ "không thật" hoặc được lập ra chủ yếu để có tư cách nhập cư. Hai vế này được xét độc lập: một hôn nhân có thể có tình cảm thật nhưng nếu bằng chứng cho thấy mục đích chính là nhập cư, hồ sơ vẫn có thể bị từ chối. Viên chức đánh giá toàn bộ câu chuyện, không chấm từng giấy riêng lẻ.
Những yếu tố thường được xem: hai người quen nhau thế nào, quan hệ phát triển qua thời gian ra sao, có gặp nhau trực tiếp không và bao nhiêu lần, có chia sẻ tài chính, nơi ở, trách nhiệm không, gia đình hai bên có biết và tham gia không, có con chung không, hai người hiểu về nhau đến đâu (công việc, gia đình, thói quen), và có điều gì bất thường như chênh lệch tuổi lớn, quen qua môi giới, kết hôn rất nhanh sau khi quen, một bên từng bị từ chối thị thực nhiều lần.
Không yếu tố nào tự động làm hỏng hồ sơ. Chênh lệch tuổi hay quen qua mạng là chuyện bình thường của nhiều cặp thật. Điều cần làm là giải thích rõ ràng trong bản khai và đưa bằng chứng tự nhiên: ảnh nhiều thời điểm với người thân, lịch sử trò chuyện có chọn lọc, vé máy bay, giấy tờ chuyển tiền giữa hai người, lời xác nhận của người thân. Đám cưới tổ chức theo phong tục ở Việt Nam với ảnh có họ hàng hai bên cũng là bằng chứng có giá trị.
Viên chức có thể mời phỏng vấn, hỏi riêng từng người cùng những câu giống nhau. Câu trả lời không cần khớp tuyệt đối từng chi tiết nhỏ; mâu thuẫn ở những điều căn bản như ngày cưới, nơi sống, công việc của nhau mới là dấu hiệu đáng ngại.
Các bước một hồ sơ bảo lãnh vợ chồng
Hồ sơ bảo lãnh vợ chồng được nộp trực tuyến như một bộ gồm phần của người bảo lãnh và phần của người được bảo lãnh:
- Kiểm điều kiện người bảo lãnh theo danh sách loại trừ ở trên trước khi bỏ công chuẩn bị.
- Chọn diện trong hay ngoài Canada dựa trên nơi ở, nhu cầu làm việc và nhu cầu đi lại.
- Chuẩn bị giấy tờ quan hệ: giấy kết hôn hoặc bằng chứng sống chung, bản khai về quá trình quan hệ, ảnh, bằng chứng liên lạc và tài chính chung.
- Chuẩn bị giấy tờ nhân thân của người được bảo lãnh: hộ chiếu, khai sinh, lý lịch tư pháp các nước từng sống, giấy tờ ly hôn nếu từng kết hôn.
- Nộp hồ sơ và phí qua cổng trực tuyến của IRCC; người bảo lãnh ký cam kết.
- Sinh trắc học và khám sức khoẻ theo yêu cầu.
- Trả lời yêu cầu bổ sung, phỏng vấn nếu có, rồi nhận COPR và landing.
Thời gian xử lý thay đổi theo diện và theo thời điểm; trang thời gian xử lý của IRCC là nguồn cập nhật. Tránh nộp vội khi giấy tờ chưa đủ, vì hồ sơ thiếu có thể bị trả lại và mất thời gian nhiều hơn.
Cam kết ba năm, ly hôn và những hậu quả cần biết
Cam kết bảo lãnh vợ hoặc chồng kéo dài ba năm kể từ ngày người được bảo lãnh thành thường trú nhân. Trong thời gian này, nếu người được bảo lãnh nhận trợ cấp xã hội, người bảo lãnh có nghĩa vụ hoàn trả cho chính quyền. Ly hôn, ly thân hay người được bảo lãnh chuyển đi nơi khác đều không chấm dứt cam kết.
Từ năm 2017, Canada đã bỏ quy định thường trú có điều kiện hai năm đối với vợ chồng được bảo lãnh. Người được bảo lãnh thành thường trú nhân đầy đủ ngay khi landing, và chia tay sau đó không tự làm mất tư cách. Tuy nhiên, nếu có bằng chứng hôn nhân được lập ra để nhập cư, tư cách đó vẫn có thể bị điều tra và thu hồi vì khai gian, kể cả nhiều năm sau.
Bạo lực gia đình là chủ đề cần nói thẳng: người được bảo lãnh không phụ thuộc vào người bảo lãnh để giữ tư cách thường trú, và Canada có các kênh hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình bất kể tình trạng di trú. Người đang trong quan hệ bạo hành không nên ở lại vì sợ mất PR.
Mỗi cặp đôi có câu chuyện riêng; nếu bạn muốn có người đọc lại bản khai quan hệ trước khi nộp, biểu mẫu tư vấn miễn phí trên trang Vĩnh Trú nhận câu hỏi và trả lời qua email, không thay IRCC xét hồ sơ và không cam kết kết quả.
Câu hỏi thường gặp
Thường trú nhân Canada đang ở Việt Nam có bảo lãnh vợ được không?
Thường trú nhân phải đang sống ở Canada khi bảo lãnh. Người thường trú đang sống lâu dài ở Việt Nam thường không đáp ứng điều kiện này, khác với công dân Canada là người được phép bảo lãnh từ nước ngoài nếu chứng minh sẽ về Canada. Cũng cần kiểm nghĩa vụ cư trú của chính người bảo lãnh.
Đính hôn rồi có bảo lãnh được không?
Canada không có diện thị thực hôn phu thê như Mỹ. Hai người phải đã kết hôn, đã sống chung đủ 12 tháng, hoặc đáp ứng định nghĩa bạn đời gắn bó. Người đính hôn có thể sang thăm bằng thị thực tạm trú rồi kết hôn, nhưng thị thực thăm được xét theo ý định tạm trú.
Người được bảo lãnh có cần thi tiếng Anh không?
Không. Diện bảo lãnh vợ chồng không đòi hỏi bài thi ngôn ngữ, học vấn hay kinh nghiệm làm việc. Tuy vậy tiếng Anh hoặc tiếng Pháp sẽ quyết định nhiều điều sau khi sang, và trong phỏng vấn người được bảo lãnh có thể được hỏi qua phiên dịch.
Người bảo lãnh có cần chứng minh thu nhập tối thiểu không?
Khi chỉ bảo lãnh vợ hoặc chồng, hoặc kèm con phụ thuộc chưa có con của riêng mình, thông thường không yêu cầu mức thu nhập tối thiểu. Nếu con phụ thuộc đi kèm lại có con, yêu cầu tài chính có thể phát sinh. Người bảo lãnh vẫn phải không phụ thuộc trợ cấp xã hội ngoài lý do khuyết tật.
Hồ sơ bảo lãnh vợ chồng bị từ chối thì có nộp lại được không?
Có thể nộp lại nếu khắc phục được lý do từ chối, chẳng hạn bổ sung bằng chứng về quan hệ. Với diện ngoài Canada, người bảo lãnh còn có quyền kháng cáo lên IAD trong thời hạn ghi ở thư. Đọc kỹ lý do trong thư và cân nhắc xin ghi chú hồ sơ trước khi quyết định.
Con riêng của vợ hoặc chồng có được đi cùng không?
Con phụ thuộc của người được bảo lãnh, kể cả con riêng, được khai và có thể được cấp thường trú cùng lúc nếu đáp ứng định nghĩa con phụ thuộc. Cần giấy khai sinh, và nếu cha hoặc mẹ ruột còn lại không đi cùng thì thường cần giấy đồng ý hoặc quyết định nuôi con.